Hoàng Hoa Thám (1845-1913)
Hoàng Hoa Thám tên thật là Trương Văn Nghĩa, sinh năm 1845 tại làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), cha ông là Trương Thận chiêu tập nghĩa binh nổi dậy chống lại triều đình, bị truy nã phải thay tên đổi họ trốn đi nơi khác.
![]() |
| Hoàng Hoa Thám |
Sau khi giặc Pháp xâm chiếm Bắc Kỳ, ông tham gia quân khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Đề Nẫm. Khi Đề Nẫm hy sinh, ông rút về Phồn Xương, Nhã Nam, Yên Thế lập căn cứ, đổi họ Hoàng, tên Thám. Đương thời gọi là Hoàng Hoa Thám hay Đề Thám.
![]() |
| Hoàng Hoa Thám và con, cháu |
![]() |
| Quấn Pháp tải thương binh (Yên Thế, 1909) |
Chính vì sự ngưỡng mộ với người anh hùng Yên Thế, Đơrao Sacbone một sĩ quan Pháp đã bỏ nhiều năm đi tìm mộ Đề Thám và năm 1944, ông đã tìm thấy ngôi mộ nằm tại Đồi Ngô thuộc cánh đồng Hữu Phúc. Với cảm xúc kính trọng, ông viết:
“Khi mặt đất phủ bóng tối đã lộ ra dấu tích của ông và đồn Hữu Nhuế, tôi cảm thấy mình bay bổng cùng với huyền thoại về người anh hùng và chắc chắn sẽ sống mãi với các thế hệ người Việt Nam”.
Cả gia đình Đề Thám hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc một cách anh hùng và cảm động. Người con cuối cùng của ông là bà Hoàng Thị Thế, bị bắt về Pháp từ khi mới 6 - 7 tuổi, cuối đời bà đã về nước và đã qua đời. Theo di chúc, bà được an táng tại Phồn Xương, nơi người cha nhiều năm tháng xây dựng căn cứ chống giặc. Dấu tích thành Phồn Xương nay vân còn, tại đây có tượng đài, nhà lưu niệm về Đề Thám.
Tại Dị Chế, dòng họ Trương cũng trưng một bàn thờ đơn sơ thờ Trương Văn Nghĩa, người con trung hiếu của quê hương và dòng họ. Bài văn thề đánh giặc của Đề Thám được gìn giữ như một kỷ vật thiêng liêng. Dưới đây xin trích một đoạn:
Hỡi người dự lễ hôm nay
Cùng nhau ta nắm chặt tay thề nguyền
Thề kế tiếp trung hiền, tiên liệt
Đem máu xương trừ diệt xâm lăng
Cùng nhau hô tiếng to vang
Việt Nam độc lập vững vàng muôn năm.



