Thông tư hướng dẫn mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp trong hoạt động kiểm toán độc lập
Ngày 29/6/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 76/2026/TT-BTC hướng dẫn mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp trong hoạt động kiểm toán độc lập. Thông tư gồm 03 chương, 11 điều, được ban hành trên cơ sở Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/QH15) và các quy định liên quan về chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026, đồng thời bãi bỏ điểm 5 mục B phần II Thông tư số 64/2004/TT-BTC ngày 29/6/2004.
Theo đó, việc ban hành Thông tư số 76/2026/TT-BTC nhằm tạo cơ sở pháp lý thống nhất để các doanh nghiệp kiểm toán chủ động thiết lập cơ chế bảo đảm tài chính cho trách nhiệm nghề nghiệp, qua đó tăng cường kỷ luật tuân thủ, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đơn vị được kiểm toán và người sử dụng kết quả kiểm toán trong trường hợp phát sinh thiệt hại do lỗi nghề nghiệp.
Theo quy định tại Điều 1, Thông tư quy định về việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp trong hoạt động kiểm toán độc lập theo Luật Kiểm toán độc lập.
Về đối tượng áp dụng (Điều 2), Thông tư áp dụng đối với:
- Kiểm toán viên hành nghề;
- Doanh nghiệp kiểm toán;
- Tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Thông tư cũng làm rõ một số khái niệm phục vụ áp dụng thống nhất. Trong đó, “doanh nghiệp kiểm toán” bao gồm cả doanh nghiệp kiểm toán và chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định. Đồng thời, “dịch vụ đảm bảo” được hiểu theo Khuôn khổ Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo ban hành kèm theo Thông tư số 69/2015/TT-BTC ngày 08/5/2015 và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có). Việc xác định đúng doanh thu dịch vụ đảm bảo có ý nghĩa trực tiếp đối với doanh nghiệp lựa chọn phương án trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp.
Một điểm trọng tâm của Thông tư là quy định tại Điều 4: doanh nghiệp kiểm toán có nghĩa vụ thực hiện mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp.
Quy định này thể hiện yêu cầu quản trị rủi ro nghề nghiệp theo hướng bắt buộc có cơ chế bảo đảm trách nhiệm, thay vì chỉ dừng ở yêu cầu mang tính nguyên tắc. Do đặc thù hoạt động kiểm toán độc lập có thể phát sinh rủi ro gây thiệt hại cho khách hàng và người sử dụng báo cáo, việc chủ động bố trí nguồn lực tài chính để thực hiện nghĩa vụ bồi thường được xem là một cấu phần quan trọng của trách nhiệm nghề nghiệp.
Theo Điều 5, trường hợp doanh nghiệp kiểm toán lựa chọn phương án mua bảo hiểm, doanh nghiệp thực hiện mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Đáng chú ý, Thông tư đồng thời xác định rõ cơ chế hạch toán: chi phí mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp. Quy định này tạo cơ sở để doanh nghiệp ghi nhận chi phí quản trị rủi ro nghề nghiệp một cách thống nhất trong quản lý tài chính, kế toán của doanh nghiệp.
Trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp cần bảo đảm việc mua bảo hiểm được tổ chức đầy đủ hồ sơ theo quy định, theo dõi thời hạn hiệu lực và duy trì liên tục để tránh phát sinh khoảng thời gian “trống” về bảo hiểm trong giai đoạn doanh nghiệp đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kiểm toán.
Trường hợp lựa chọn trích lập quỹ, doanh nghiệp kiểm toán thực hiện theo Điều 6 của Thông tư, trong đó quy định cụ thể về thời điểm trích lập, mức trích, giới hạn số dư quỹ và yêu cầu quản lý nội bộ.
Doanh nghiệp kiểm toán trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp vào cuối năm tài chính, với mức trích là 1% trên doanh thu dịch vụ đảm bảo của năm đó. Việc gắn tỷ lệ trích lập với doanh thu dịch vụ đảm bảo nhằm bảo đảm quỹ dự phòng có tương quan với quy mô hoạt động và mức độ rủi ro nghề nghiệp có thể phát sinh.
Khoản trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp. Đây là cơ chế tương đồng với phương án mua bảo hiểm về mặt ghi nhận chi phí, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp lựa chọn phương án phù hợp với mô hình quản trị mà vẫn bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng trong hạch toán.
Thông tư quy định số dư quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp không vượt quá 10% doanh thu dịch vụ đảm bảo của năm tài chính hiện hành. Trường hợp số dư quỹ vượt mức 10%, doanh nghiệp phải hoàn nhập phần vượt mức và hạch toán giảm chi phí quản lý doanh nghiệp. Quy định này nhằm bảo đảm quỹ vận hành đúng bản chất “dự phòng rủi ro”, tránh tích lũy không phù hợp hoặc làm sai lệch chi phí.
Doanh nghiệp kiểm toán có trách nhiệm xây dựng và ban hành quy chế nội bộ về quản lý và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp. Đây là yêu cầu quan trọng để bảo đảm quỹ được quản lý chặt chẽ, có kiểm soát nội bộ, xác định rõ thẩm quyền quyết định chi, điều kiện sử dụng quỹ và trách nhiệm giải trình khi phát sinh bồi thường.
Theo Điều 7, trong suốt thời gian đủ điều kiện cung cấp dịch vụ kiểm toán, doanh nghiệp kiểm toán phải duy trì liên tục và không ngắt quãng việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiểm toán viên hành nghề hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp.
Quy định này có ý nghĩa trực tiếp đối với việc tổ chức thực hiện: cơ chế bảo đảm trách nhiệm nghề nghiệp không phải là biện pháp mang tính “thời điểm”, mà là nghĩa vụ duy trì xuyên suốt trong quá trình doanh nghiệp hoạt động và cung cấp dịch vụ kiểm toán.
Tại Điều 8, Thông tư quy định rõ việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp doanh nghiệp kiểm toán có lỗi gây thiệt hại cho đơn vị được kiểm toán và người sử dụng kết quả kiểm toán.
Theo đó, doanh nghiệp kiểm toán được:
doanh nghiệp bảo hiểm/chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm đã cam kết, hoặc
sử dụng quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp để bồi thường.
Trường hợp số tiền phải chi trả bồi thường lớn hơn số bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm hoặc lớn hơn số dư quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp, thì phần chênh lệch lớn hơn được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp, sau khi trừ số thu bồi thường của đơn vị, cá nhân gây ra (nếu có) theo quy định pháp luật. Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc: bảo hiểm hoặc quỹ dự phòng là nguồn ưu tiên, nhưng không làm giới hạn trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp kiểm toán khi thiệt hại vượt quá phạm vi/nguồn lực dự phòng.
Theo Điều 9, việc xác định nghĩa vụ thuế được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế, bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật thuế hiện hành và các thay đổi (nếu có) trong từng thời kỳ.
Theo Điều 10, Thông tư số 76/2026/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026; Đồng thời bãi bỏ điểm 5 mục B phần II Thông tư số 64/2004/TT-BTC ngày 29/6/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Thông tư số 76/2026/TT-BTC là cơ sở để chuẩn hóa cơ chế bảo đảm trách nhiệm nghề nghiệp trong kiểm toán độc lập, góp phần nâng cao tính an toàn, trách nhiệm và minh bạch của thị trường dịch vụ kiểm toán, đồng thời tăng cường bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng và người sử dụng kết quả kiểm toán.
