Sửa đổi, bổ sung một số quy định về đầu tư theo phương thức đối tác công tư
Ngày 01/10/20,6 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 377/2026/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP).
Theo đó, Nghị định số 377/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 180/2025/NĐ-CP về cơ chế, chính sách hợp tác công tư trong lĩnh vực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị định số 243/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật PPP; Nghị định số 257/2025/NĐ-CP về việc thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng BT; Nghị định số 312/2025/NĐ-CP quy định cơ chế quản lý tài chính dự án PPP và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT nhằm bổ sung các quy định để nâng cao tính khả thi, minh bạch, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật về PPP, đất đai, xây dựng, khoa học và công nghệ và pháp luật có liên quan; đa dạng hoá, nâng cao hiệu quả các hình thức hợp tác giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân gắn với tăng cường hậu kiểm; tạo lập môi trường thuận lợi, công bằng, minh bạch cho các khu vực kinh tế trong khai thác và sử dụng nguồn lực quốc gia…
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung 5 vào sau khoản 4 Điều 11 của Nghị định số 180/2025/NĐ-CP như sau:
“5. Hợp đồng hỗn hợp quy định tại khoản 3 Điều 45 của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư được áp dụng đối với các dự án cần kết hợp nhiều loại hợp đồng khác nhau để phù hợp với điều kiện thực tế của dự án, đặc điểm, khả năng thương mại hóa của công nghệ.
Hợp đồng hỗn hợp có thể được kết hợp một hoặc một số loại hợp đồng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này hoặc mô hình hợp tác khác theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về dữ liệu và pháp luật khác có liên quan. Các bên thỏa thuận, thống nhất về việc kết hợp các loại hợp đồng, mô hình hợp tác, phương thức quản lý, phương án thu hồi vốn đầu tư.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP về sửa đổi khoản 4 Điều 12 của Nghị định số 180/2025/NĐ-CP như sau:
“4. Trình tự, thủ tục chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, ký kết, thực hiện hợp đồng và quản lý nhà nước đối với dự án PPP thực hiện theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Nghị định này. Các nội dung về kỹ thuật, yêu cầu về thiết kế, an ninh, an toàn mạng và các nội dung đặc thù khác của lĩnh vực công nghệ thông tin thực hiện theo quy định của pháp luật về chuyển đổi số và an ninh mạng.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP về sửa đổi khoản 1, 2 Điều 13 của Nghị định số 180/2025/NĐ-CP như sau:
“1. Chỉ định nhà đầu tư theo quy định tại Điều 39 của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Điều 55 Nghị định số 243/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư.”.
“2. Lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 40 của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Điều 57 Nghị định số 243/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 17 của Nghị định số 180/2025/NĐ-CP như sau:
“2. Dự án PPP có hoạt động thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt hàng hoặc tài trợ một phần hoặc toàn bộ kinh phí từ ngân sách nhà nước quy định tại Điều 22 của Nghị định này. Phần kinh phí này không tính vào tỷ lệ vốn nhà nước tham gia trong dự án PPP quy định tại khoản 1 Điều này. Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP tổ chức quản lý và hạch toán độc lập phần kinh phí này với phần vốn nhà nước tham gia trong dự án PPP. Việc đặt hàng hoặc tài trợ, thanh toán, quyết toán thực hiện theo pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 3 Điều 5 Nghị định số 243/2025/NĐ-CP như sau:
“d) Trường hợp thuê tư vấn nước ngoài, liên danh tư vấn trong nước và tư vấn nước ngoài hoặc không có định mức thì dự toán chi phí thẩm tra được lập theo quy định của Chính phủ về trình tự, thủ tục thẩm định dự án quan trọng quốc gia và giám sát, đánh giá đầu tư.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 34 Nghị định số 243/2025/NĐ-CP như sau:
“5. Đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT không yêu cầu thanh toán, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước thời điểm hợp đồng có hiệu lực. Giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng theo mức xác định là 1% tổng mức đầu tư của dự án.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 42 Nghị định số 243/2025/NĐ-CP như sau:
“c) Tiêu chuẩn về môi trường và an toàn, gồm: Yêu cầu về phương án bảo vệ môi trường và an toàn mà nhà đầu tư phải bảo đảm theo quy định của pháp luật về môi trường; ưu tiên cho nhà đầu tư đề xuất giải pháp giảm phát sinh chất thải, thúc đẩy sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường, nhà đầu tư huy động vốn vay từ nguồn tài chính xanh hoặc nguồn vốn hợp pháp khác phục vụ mục tiêu bảo vệ môi trường, chuyển đổi xanh theo quy định của pháp luật; ưu tiên chuyển giao và áp dụng công nghệ chiến lược, tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ mới, công nghệ thân thiện môi trường, kỹ thuật hiện có tốt nhất (đối với dự án thuộc nhóm có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường);”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b, d của khoản 3 Điều 57 Nghị định số 243/2025/NĐ-CP như sau:
“b) Dự án có yêu cầu thực hiện ngay nhằm bảo đảm kết nối, đồng bộ hạ tầng kỹ thuật giữa các công trình thuộc dự án theo chỉ đạo tại Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị, văn bản thông báo ý kiến của lãnh đạo Chính phủ để đáp ứng yêu cầu về hiệu quả quản lý, khai thác, vận hành công trình đồng bộ, liên tục;”.
“d) Dự án thuộc ngành, lĩnh vực phục vụ mục tiêu bảo đảm trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật về đầu tư công; dự án không sử dụng vốn nhà nước thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường được triển khai tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư theo pháp luật về đầu tư.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 6a vào sau khoản 6 Điều 3 Nghị định số 257/2025/NĐ-CP như sau:
khoản 6a vào sau khoản 6 Điều 3
“6a. Giá trị công trình dự án BT là giá trị bao gồm chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (nếu có); chi phí xây dựng; chi phí thiết bị (nếu có); chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn xây dựng; chi phí khác; chi phí dự phòng; lãi vay huy động vốn đầu tư. Việc xác định các loại chi phí trên thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng và pháp luật có liên quan. Lãi vay chỉ áp dụng đối với phần vốn nhà đầu tư phải đi vay; không tính lãi vay đối với phần vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư. Giá trị công trình dự án BT thanh toán bằng quỹ đất không gồm lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 5a vào sau khoản 5 Điều 4 Nghị định số 257/2025/NĐ-CP như sau:
“5a. Đối với dự án BT có quy mô tổng mức đầu tư từ 20.000 tỷ đồng trở lên mà cấp có thẩm quyền phê duyệt thiết kế xây dựng, dự toán đối với từng công trình, hạng mục công trình thuộc dự án hoặc dự án BT có các hạng mục phức tạp, yêu cầu cao về thiết kế, mỹ thuật, công nghệ mới hoặc điều kiện thi công khó khăn, cần áp dụng định mức, đơn giá hoặc suất vốn đầu tư đặc biệt được xác định theo quy định của pháp luật về xây dựng, cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư dự án BT được ký kết hợp đồng trên cơ sở tổng mức đầu tư tại quyết định phê duyệt dự án.
Sau khi thiết kế xây dựng và dự toán của công trình, hạng mục công trình thuộc dự án BT được phê duyệt theo quy định của pháp luật về xây dựng, cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư dự án BT phải ký kết phụ lục hợp đồng để cập nhật giá trị công trình dự án BT, bảo đảm không vượt tổng mức đầu tư được duyệt.”.
Nghị định số 377/2026/NĐ-CP bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 33 Nghị định số 312/2025/NĐ-CP như sau:
“d) Đối với dự án BT kết hợp thanh toán bằng quỹ đất và ngân sách nhà nước: Thời gian bố trí vốn đầu tư công, nguồn vốn ngân sách nhà nước thu được sau đấu giá quỹ đất, tài sản công để thanh toán hạng mục dự án thanh toán bằng ngân sách nhà nước kể từ thời điểm hạng mục hoàn thành, bàn giao cho Nhà nước không quá 03 năm đối với hạng mục có giá trị tương đương quy mô dự án nhóm A, không quá 02 năm đối với hạng mục có giá trị tương đương quy mô dự án nhóm B, không quá 01 năm đối với hạng mục có giá trị tương đương quy mô dự án nhóm C theo quy định của pháp luật về đầu tư công.”.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
Bãi bỏ Nghị định số 69/2019/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2019 của Chính phủ quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao.
