Quy định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ Học bổng Quốc gia

Ngày 11/8/2026, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 317/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ Học bổng Quốc gia.

Nghị định này quy định chi tiết khoản 4a Điều 85 Luật Giáo dục năm 2019 được sửa đổi, bổ sung bởi điểm b khoản 23 Điều 1 Luật số 123/2025/QH15 về thành lập, tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ Học bổng Quốc gia.

Theo Nghị định, mục tiêu hoạt động của Quỹ là thực hiện chính sách của Nhà nước nhằm phát hiện, khuyến khích, bồi dưỡng, thu hút và phát triển nhân lực chất lượng cao; mở rộng cơ hội học tập, nghiên cứu, phát triển kỹ năng nghề và năng lực cá nhân cho người học theo định hướng ưu tiên của Nhà nước trong từng giai đoạn.

Hỗ trợ thu hẹp chênh lệch cơ hội học tập giữa các vùng, miền và nhóm đối tượng; ưu tiên người học thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người học thuộc ngành, lĩnh vực ưu tiên, ngành có nhu cầu nhân lực cao và nhóm đối tượng cần khuyến khích, hỗ trợ theo quy định.

Hỗ trợ người học trong học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển kỹ năng nghề, năng lực số, năng lực hội nhập học thuật quốc tế và khả năng tham gia thị trường lao động.

Huy động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước và nguồn ngoài ngân sách nhà nước để thực hiện chính sách học bổng quốc gia.

Nghị định số 317/2026/NĐ-CP quy định, Quỹ Học bổng Quốc gia có chức năng huy động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và nguồn ngoài ngân sách nhà nước để tổ chức thực hiện nhiệm vụ cấp học bổng, chương trình học bổng và nhiệm vụ hỗ trợ người học theo quy định của Luật Giáo dục, Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Quỹ có các nhiệm vụ sau đây: Xây dựng chiến lược, kế hoạch hoạt động, kế hoạch tài chính, danh mục chương trình học bổng và phương án sử dụng nguồn lực của Quỹ, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; Huy động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính, tài sản của Quỹ đúng mục tiêu, nguyên tắc hoạt động, chương trình, nhiệm vụ, văn kiện, thỏa thuận và quy định của pháp luật; Tổ chức thực hiện chương trình học bổng và nhiệm vụ hỗ trợ người học được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc giao; Theo dõi, đánh giá, báo cáo và công khai kết quả hoạt động, việc quản lý, sử dụng nguồn lực của Quỹ theo quy định; Thực hiện nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giao theo quy định của pháp luật.

Quỹ có các quyền hạn sau đây: Ký kết hợp đồng, văn kiện, thỏa thuận và thực hiện giao dịch thuộc phạm vi hoạt động của Quỹ theo thẩm quyền và quy định của pháp luật; Yêu cầu người đăng ký xét cấp học bổng, người được cấp học bổng cung cấp, xác nhận, đối chiếu thông tin, hồ sơ, tài liệu; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp, cung cấp, xác nhận, đối chiếu thông tin phục vụ hoạt động của Quỹ; Thuê dịch vụ, chuyên gia, tổ chức tư vấn và sử dụng các công cụ chuyên môn cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của Quỹ trong phạm vi nguồn kinh phí hợp pháp; Thực hiện các quyền được quy định tại Nghị định này về tiếp nhận nguồn ngoài ngân sách nhà nước, tổ chức chương trình học bổng, quản lý tài chính, tạm dừng hỗ trợ, thu hồi, bồi hoàn và xử lý vi phạm; Thực hiện quyền hạn khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Quỹ theo Nghị định này, quyết định giao nhiệm vụ, phân cấp, ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định của pháp luật.

Các chương trình học bổng gồm:

- Học bổng tài năng;

- Học bổng cho người học đi học tại nước ngoài;

- Học bổng theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;

- Học bổng thu hút người nước ngoài học tập, nghiên cứu tại Việt Nam;

- Học bổng tạo cơ hội phát triển.

Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình học bổng của Quỹ phải bảo đảm phù hợp với mục tiêu của Quỹ, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, khả năng cân đối nguồn lực, yêu cầu phát triển nhân lực trong từng giai đoạn và quy định của pháp luật.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt chương trình học bổng của Quỹ; quy định đối tượng, điều kiện, tiêu chí xét chọn, thang điểm, chính sách ưu tiên, khung mức hỗ trợ, cơ cấu khoản chi, phương thức giải ngân và tổ chức thực hiện chương trình học bổng trong phạm vi đối tượng quy định tại khoản 4a Điều 85 Luật Giáo dục, phù hợp với Nghị định này và pháp luật có liên quan.

Việc xét chọn học bổng phải bảo đảm phù hợp với mục tiêu, đối tượng, điều kiện của từng chương trình học bổng; công bằng, công khai, minh bạch; có cơ chế so sánh, xếp hạng giữa các ứng viên, phòng ngừa xung đột lợi ích, bảo đảm liêm chính trong đánh giá. Chương trình học bổng có thể áp dụng tiêu chí ưu tiên, cơ cấu chỉ tiêu phù hợp để bảo đảm cơ hội tiếp cận học bổng cho người học thuộc vùng khó khăn, nhóm cần khuyến khích, hỗ trợ, ngành, lĩnh vực, địa bàn ưu tiên.

Cơ sở giáo dục, cơ sở nghiên cứu, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp và cơ quan, tổ chức có liên quan được tham gia đề xuất nhu cầu, giới thiệu, đề cử người học, xác nhận thông tin hoặc hỗ trợ đánh giá chuyên môn theo quy định của chương trình học bổng. Việc tham gia này không làm thay đổi thẩm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc phê duyệt chương trình học bổng, quy định tiêu chí xét chọn, phê duyệt kết quả xét cấp và tổ chức cấp học bổng theo Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.

NVĐ

Bản đồ hành chính

Đánh giá người dùng

Bạn đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ công trực tuyến?

Ý kiến của bạn giúp chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Ý KIẾN NGƯỜI DÙNG

Kết quả đánh giá

Chất lượng dịch vụ công trực tuyến

746lượt đánh giá được ghi nhận
Rất hài lòng44%
327 lượt đánh giá
Hài lòng8%
58 lượt đánh giá
Bình thường11%
84 lượt đánh giá
Không hài lòng16%
119 lượt đánh giá
Ý kiến khác21%
158 lượt đánh giá
Cảm ơn bạn đã đóng góp ý kiến!
Đã truy cập16.015.131Tổng lượt truy cập
Đang online365
Truy cập hôm nay12.567

Online: hoạt động trong 5 phút gần nhất