Quy định về phòng chống tin giả, tin sai sự thật
Ngày 19/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 328/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về phòng chống tin giả, tin sai sự thật.
Theo đó, Nghị định quy định về phân loại tin giả, tin sai sự thật, như sau:
Phân loại theo độ nguy hại gồm:
- Tin giả, tin sai sự thật gây hậu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng gồm các thông tin tác động tiêu cực trên quy mô lớn đến an ninh quốc gia, quốc phòng, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội; xâm hại đến uy tín của Đảng, Nhà nước; uy tín, danh dự của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước; hoặc có khả năng gây khủng hoảng truyền thông, kích động bạo loạn, gây hoang mang sâu sắc trong dư luận xã hội;
- Tin giả, tin sai sự thật nguy hại bao gồm thông tin tác động trong phạm vi hẹp, xâm hại trực tiếp đến uy tín, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cụ thể.
Phân loại theo pháp luật về tiếp cận thông tin gồm:
- Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân không được tiếp cận;
- Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện;
- Tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân được tiếp cận.
Về quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật:
- Phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật:
+ Phát hiện thông qua cá nhân, cơ quan, tổ chức phản ánh, tố giác tin giả, tin sai sự thật;
+ Phát hiện thông qua cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện giám sát, rà soát, kiểm soát thông tin trong phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;
+ Phát hiện thông qua rà soát, cảnh báo của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp dịch vụ thông tin xuyên biên giới hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Phát hiện thông qua việc các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp chuyển yêu cầu đến cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật;
+ Phát hiện thông qua yêu cầu kiểm chứng, xác minh, làm rõ của nạn nhân, tổ chức bị ảnh hưởng do thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.
- Kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.
- Gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật: Sau khi kết luận thông tin là tin giả, tin sai sự thật, đơn vị trực tiếp kiểm chứng gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật.
- Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật: Cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật công bố, cảnh báo thông tin phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin.
- Ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật.
- Áp dụng các hình thức xử lý.
Theo khoản 3 Điều 11, Nghị định số 328/2026/NĐ-CP quy định các cơ quan chức năng có thẩm quyền căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả thiệt hại của tin giả để lựa chọn hình thức phù hợp, trong đó có thể gửi thông tin thông qua các hình thức sau: Gửi đến khu dân cư nơi cá nhân, tổ chức liên quan cư trú; Gửi đến cơ quan, tổ chức nơi cá nhân làm việc; Công bố, cảnh báo trên trang, cổng thông tin hoặc ứng dụng công khai của cơ quan, đơn vị; Công bố trên cổng thông tin điện tử của cơ quan trực tiếp kiểm chứng; Công bố trên phương tiện truyền thông đại chúng; Công bố, cảnh báo chính thức cấp nhà nước.
Ngoài ra, tùy mức độ nguy hại, Nghị định còn quy định thời hạn công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật như sau: Tin giả gây hậu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng phải được công bố ngay sau khi gắn nhãn; Tin giả nguy hại phải được công bố, cảnh báo trong 12 giờ làm việc kể từ khi được gắn nhãn.
Việc xử lý tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật được thực hiện như sau:
- Tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật có dấu hiệu tội phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật hình sự và các quy định liên quan;
- Tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật khác không thuộc điểm c khoản 5 Điều 5 Nghị định này thì được xử lý theo quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật.
Việc báo tin, tố giác, phản ánh thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật được thực hiện thông qua liên hệ trực tiếp, đường dây nóng; qua cổng thông tin điện tử của các cơ quan, bộ, ban, ngành; qua ứng dụng VNeID hoặc gửi văn bản đến các cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.
Các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện tin giả, tin sai sự thật có trách nhiệm thông báo với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để giải quyết, xử lý theo quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật.
Các cơ quan chức năng có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý nguồn tin theo quy định của pháp luật.
Trường hợp phát hiện cá nhân, cơ quan, tổ chức lợi dụng việc báo tin, tố giác tin giả, tin sai sự thật để thực hiện hành vi nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp công dân thì cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
Nghị định quy định, Bộ Công an chịu trách nhiệm chung trong việc tổ chức thanh tra, kiểm tra phòng, chống tin giả, tin sai sự thật của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp bao gồm kiểm chứng, công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật, gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật và các hoạt động khác trong phòng, chống tin giả, tin sai sự thật trong phạm vi Nghị định này.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thanh tra, kiểm tra phòng, chống tin giả, tin sai sự thật trong phạm vi, địa bàn, lĩnh vực quản lý; phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Công an thanh tra, kiểm tra phòng, chống tin giả, tin sai sự thật trong phạm vi Nghị định này.
Nghị định cũng quy định, các cá nhân, tổ chức thuộc Điều 2 của Nghị định này trừ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp thông tin xuyên biên giới có hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam có trách nhiệm:
a) Tuân thủ pháp luật về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật và các quy định liên quan;
b) Phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin với các đơn vị chức năng của Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền khác tổ chức các mặt công tác phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;
c) Tố giác tin giả, tin sai sự thật với các cơ quan có thẩm quyền.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp thông tin xuyên biên giới có hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam có trách nhiệm sau đây:
a) Tuân thủ quy định pháp luật về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;
b) Bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động thông tin, truyền thông;
c) Tổ chức các biện pháp kiểm soát để phòng, chống tin giả, tin sai sự thật gồm:
Thiết lập các biện pháp để phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật sau khi đã gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật theo quy định của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 và pháp luật có liên quan;
Thiết lập cơ chế báo cáo vi phạm cho người dùng, không cho phép đăng tải, phát tán, chia sẻ thông tin khi thông tin đã được cơ quan chức năng xác thực tin giả, tin sai sự thật.
d) Kịp thời phối hợp, trao đổi, cung cấp đầy đủ thông tin theo đề nghị của các đơn vị chức năng của Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền khác để tổ chức các biện pháp phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;
đ) Thiết lập đầu mối phối hợp 24/7 với cơ quan chức năng của Bộ Công an và các cơ quan có thẩm quyền khác để tiếp nhận yêu cầu gắn nhãn, công bố, cảnh báo, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin sau khi được xác thực là tin giả, tin sai sự thật hoặc khóa tạm thời hoặc vĩnh viễn các tài khoản mạng xã hội, trang cộng đồng, kênh nội dung tin giả, tin sai sự thật hoặc ngăn chặn, gỡ bỏ các ứng dụng tin giả, tin sai sự thật thực hiện theo quy định của pháp luật.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 10 năm 2026.
