Quy định về kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh
Ngày 7/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 312/2026/NĐ-CP quy định về kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh.
Nguyên tắc kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với an ninh: Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, sự phát triển bền vững, ổn định của kinh tế - xã hội; tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; hoạt động kết hợp được thực hiện xuyên suốt từ giai đoạn xây dựng đến triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án có liên quan đến an ninh; trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội; trên từng vùng lãnh thổ, địa bàn chiến lược, biên giới, biển, hải đảo.
Bảo đảm công khai, minh bạch, cụ thể yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị định nêu rõ, kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội là việc đáp ứng yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh trong quá trình xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội; sử dụng tài nguyên, cung cấp sản phẩm, dịch vụ đặc thù của lực lượng Công an nhân dân phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Kết hợp kinh tế - xã hội với an ninh là việc phát triển, tăng cường tiềm lực công nghiệp an ninh; việc xây dựng, triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án trong lĩnh vực kinh tế - xã hội phục vụ nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Về kết hợp an ninh với kinh tế - xã hội, Nghị định nêu rõ quy định kết hợp trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh và kết hợp trong đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh. Cụ thể, Điều 6 Nghị định quy định: Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh là chiến lược, quy hoạch, kế hoạch theo quy định của pháp luật về quy hoạch, pháp luật khác có liên quan phải đáp ứng yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện.
Yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh gồm: Tuân thủ chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; tuân thủ quy định về bí mật nhà nước; phù hợp với quy hoạch sử dụng đất an ninh, quy hoạch hạ tầng phòng cháy, chữa cháy; không có hoạt động móc nối, tác động nội bộ, biểu hiện lợi ích nhóm, phá hoại, trục lợi trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện; không có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia; không cản trở việc xây dựng, củng cố nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân, việc triển khai biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật.
Bộ Công an, Công an cấp tỉnh tham gia ý kiến hoặc cho ý kiến thẩm định hoặc đánh giá tác động về an ninh theo đề nghị của cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định đối với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trên cơ sở xem xét, đánh giá yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh.
Về kết hợp trong đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh, Nghị định quy định đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến an ninh là đề án, dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật khác có liên quan phải đáp ứng yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện.
Yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh gồm: Yêu cầu, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định này; người đại diện theo pháp luật không có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia; đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện phải có phương án bảo đảm an ninh, trật tự theo quy định của pháp luật.
Bộ Công an, Công an cấp tỉnh tham gia ý kiến hoặc cho ý kiến thẩm định hoặc đánh giá tác động về an ninh theo đề nghị của cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định đối với đề án, dự án trên cơ sở xem xét, đánh giá yêu cầu, điều kiện về bảo đảm an ninh quy định tại Nghị định này.
Nghị định nêu rõ, cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định gửi Bộ Công an, Công an cấp tỉnh hồ sơ theo quy định của pháp luật về quy hoạch, đầu tư, pháp luật có liên quan.Bộ Công an, Công an cấp tỉnh tiếp nhận, trao đổi với cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định về thành phần hồ sơ theo quy định của pháp luật về quy hoạch, đầu tư, pháp luật có liên quan trong thời hạn 2 ngày làm việc.
Bộ Công an, Công an cấp tỉnh tham gia ý kiến hoặc cho ý kiến thẩm định về việc đáp ứng yêu cầu, điều kiện quy định tại Nghị định này và gửi kết quả về cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định trong thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức. Trường hợp pháp luật chưa có quy định, Bộ Công an, Công an cấp tỉnh gửi kết quả về cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Cơ quan, tổ chức chủ trì lấy ý kiến hoặc thẩm định có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến của Bộ Công an, Công an cấp tỉnh theo quy định của pháp luật.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 22 tháng 9 năm 2026.
