Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ thu nhập hằng tháng đối với một số thành viên không có khả năng lao động thuộc hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Ngày 09/7/2026, tại Kỳ họp thứ Ba, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVIII đã thông qua Nghị quyết số 13/2026/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ thu nhập hằng tháng đối với một số thành viên không có khả năng lao động thuộc hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Theo đó, Nghị quyết quy định mức hỗ trợ đối với các đối tượng như sau:
- Hỗ trợ thêm thu nhập ổn định hằng tháng cho người thuộc hộ nghèo theo quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, không có khả năng lao động, không có khả năng thoát nghèo, đang hưởng một hoặc nhiều khoản trợ cấp hằng tháng (bao gồm trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các khoản trợ cấp khác từ ngân sách nhà nước) có tổng mức hưởng hằng tháng dưới mức tiêu chí thu nhập chuẩn nghèo đa chiều quốc gia theo quy định (sau khi trừ các khoản trợ cấp khác từ ngân sách nhà nước đã được hưởng) để đảm bảo tổng mức trợ cấp và hỗ trợ hằng tháng bằng mức thu nhập chuẩn nghèo đa chiều quốc gia do Chính phủ quy định cụ thể như sau: Năm 2026, đảm bảo tổng mức hỗ trợ theo Nghị quyết này và khoản trợ cấp khác đang được hưởng hằng tháng là 2.000.000 đồng/người/tháng đối với khu vực đô thị; 1.500.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn. Từ năm 2027 đến năm 2030, đảm bảo tổng mức hỗ trợ theo Nghị quyết này và khoản trợ cấp khác đang được hưởng hằng tháng là 2.800.000 đồng/người/tháng đối với khu vực đô thị; 2.200.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn. Sau năm 2030, thực hiện hỗ trợ dựa trên mức tiêu chí thu nhập chuẩn nghèo đa chiều quốc gia tại thời điểm thực hiện. Trong thời gian được hưởng hỗ trợ thêm hằng tháng, các đối tượng trên không còn được hưởng trợ cấp từ ngân sách nhà nước thì được hỗ trợ 100% mức thu nhập quy định trên.
- Hỗ trợ hằng tháng với mức thu nhập cụ thể như sau: Năm 2026, mức hỗ trợ hằng tháng là 2.000.000 đồng/người/tháng đối với khu vực đô thị; 1.500.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn; từ năm 2027 đến năm 2030, mức hỗ trợ hằng tháng là 2.800.000 đồng/người/tháng đối với khu vực đô thị; 2.200.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn; sau năm 2030, thực hiện hỗ trợ dựa trên mức tiêu chí thu nhập chuẩn nghèo đa chiều quốc gia tại thời điểm thực hiện cho người thuộc hộ nghèo theo quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, không có khả năng lao động, không có thu nhập hằng tháng (tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các khoản trợ cấp khác từ ngân sách nhà nước) thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Người cao tuổi (từ đủ 60 tuổi trở lên) không có khả năng thoát nghèo thuộc một trong các trường hợp sau: Không có vợ, chồng, con (bao gồm cả trường hợp: có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn; có vợ, chồng, con nhưng những người này đã chết, mất tích theo quy định của pháp luật); có vợ hoặc chồng và không có con (bao gồm cả trường hợp có con nhưng con đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật); có vợ, chồng, con nhưng những người này thuộc một trong các trường hợp: đang hưởng trợ cấp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các khoản trợ cấp hằng tháng khác từ ngân sách nhà nước tại cộng đồng; đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; đang chấp hành án phạt tù tại trại giam; đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; con dưới 18 tuổi; con từ đủ 18 tuổi đến không quá 22 tuổi đang trong thời gian học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất; thuộc đối tượng quy định ở trên.
+ Người được giám định có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên theo quy định của pháp luật;
+ Người mắc bệnh hiểm nghèo theo quy định tại Danh mục ban hành kèm theo Thông tư số 50/2024/TT-BYT ban hành danh mục bệnh hiểm nghèo để các tổ chức, cá nhân vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo;
+ Người mắc bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 25/2025/TT-BYT quy định chi tiết thi hành Luật Bảo hiểm xã hội, Luật An toàn, vệ sinh lao động về lĩnh vực y tế và một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh;
+ Trẻ em;
+ Người từ đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất được hưởng chính sách hỗ trợ cho đến khi kết thúc khóa học, nhưng tối đa không quá 22 tuổi.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 09 tháng 7 năm 2026.
Nội dung Nghị quyết số 13/2026/NQ-HĐND.
