Nghị quyết phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2026 (Phiên thứ 2)
Ngày 28/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 257/NQ-CP về phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8 năm 2026 (Phiên thứ 2).
Theo đó, Chính phủ cơ bản thống nhất về sự cần thiết xây dựng các dự án luật được trình tại Phiên họp này và đề nghị các đồng chí Bộ trưởng trực tiếp chỉ đạo tiếp thu tối đa ý kiến Thành viên Chính phủ, ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, ý kiến của các Phó Thủ tướng và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp; rà soát kỹ dự thảo trình Quốc hội bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ và khả thi; cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ một cơ quan đầu mối giải quyết gắn với công tác hậu kiểm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; không đưa vào dự án những chính sách chưa được đánh giá tác động đầy đủ; khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế làm việc của Chính phủ, bảo đảm chất lượng, tiến độ trình Quốc hội. Chính phủ quyết nghị như sau:
Về dự án Luật An ninh dữ liệu
a) Rà soát bảo đảm thống nhất về nội dung tương thích giữa 04 cấp độ rủi ro an ninh dữ liệu với hệ thống phân loại dữ liệu theo tính quan trọng của Luật Dữ liệu và cấp độ hệ thống thông tin theo pháp luật an ninh mạng để không chồng chéo, mâu thuẫn, tạo thuận lợi, thống nhất cho việc áp dụng pháp luật.
b) Rà soát, hoàn thiện đầy đủ về cơ chế kiểm soát chuyển dữ liệu xuyên biên giới theo cấp độ rủi ro, bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
c) Bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Luật An ninh mạng, Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân...; cần cân nhắc thời điểm bãi bỏ khái niệm "an ninh dữ liệu" tại Luật An ninh mạng mới có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2026, tránh phát sinh khoảng trống pháp lý.
d) Làm rõ căn cứ, tính khả thi của lộ trình mật mã kháng lượng tử và mức phạt tiền tối đa theo tỷ lệ doanh thu (tối đa 5%) đối với hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng tại dự thảo Luật.
đ) Thống nhất cần quy định đầy đủ ngay trong Luật các điều kiện, thẩm quyền, thời hạn áp dụng biện pháp khẩn cấp liên quan đến việc hạn chế quyền sử dụng, sở hữu dữ liệu của tổ chức, cá nhân và quyền bảo vệ tính riêng tư về dữ liệu cá nhân.
e) Chủ động làm việc với các đối tác quốc tế để cung cấp thông tin về Dự thảo Luật phục vụ trong đàm phán song phương, đa phương về một số lĩnh vực như thuế, sở hữu trí tuệ...
Về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử
a) Xác định rõ tiêu chí đối tượng bắt buộc định danh và xác thực điện tử thống nhất với pháp luật chuyên ngành. Nghiên cứu quy định chặt chẽ về dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh, an ninh mạng; thời hạn lưu trữ lịch sử danh tính và nhật ký xác thực phù hợp, tránh phát sinh chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp; quy định rõ các loại phí, lệ phí đồng bộ với pháp luật liên quan.
b) Chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm; chuyển một số nhiệm vụ từ Nhà nước cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội đảm nhiệm nhưng vẫn phải bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong lĩnh vực định danh và xác thực điện tử.
Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
a) Rà soát, thống nhất quan điểm đối với một số nội dung của Luật: ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đánh giá tác động môi trường, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với khí thải của phương tiện giao thông đang lưu hành...
b) Sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đáp ứng yêu cầu giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp; đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.
c) Nghiên cứu tiếp thu các ý kiến xác đáng của cộng đồng doanh nghiệp về kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường, sản xuất và tái chế phế thải, sử dụng nước sau xử lý...
Về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)
a) Rà soát thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật...
b) Hoàn thiện cơ chế quản lý dựa trên mức độ rủi ro, tăng cường hậu kiểm, truy xuất nguồn gốc; rà soát thủ tục công bố, đăng ký, kiểm nghiệm theo hướng đơn giản, minh bạch, khả thi.
c) Bổ sung quy định phù hợp để quản lý kinh doanh thực phẩm trên môi trường số, thương mại điện tử; nâng cao hiệu quả cảnh báo, thu hồi và xử lý thực phẩm không an toàn.
d) Làm rõ cơ chế hoạt động mô hình cơ quan quản lý an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương theo hướng giao một cơ quan duy nhất thống nhất quản lý
đ) Cần thống nhất quan điểm đối với những nội dung phức tạp, quan trọng còn ý kiến khác nhau trong dự án Luật này, đặc biệt là những quy định liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Về dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi)
a) Rà soát, hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm cải cách mạnh mẽ công tác đấu thầu, đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí, gia tăng lợi ích xã hội, bảo đảm chất lượng, có cơ chế hậu kiểm, không tạo vướng mắc trong quá trình triển khai; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, tránh trùng lặp, chồng chéo với các Luật có liên quan (như: Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Dầu khí, Luật Dược...), nhất là các quy định về lựa chọn chủ đầu tư trong lĩnh vực năng lượng, lựa chọn nhà thầu trong thực hiện dự án xây dựng năng lượng, xây dựng giao thông, hạ tầng, thuốc, thiết bị y tế...
b) Rà soát, hoàn thiện các quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, hình thức, kế hoạch lựa chọn nhà thầu, các hành vi bị cấm trong hoạt động đấu thầu, trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư; trường hợp hủy thầu, hợp đồng; có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ tránh việc vi phạm, tiêu cực gây thất thoát tài sản Nhà nước.
c) Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung các quy định về giải quyết tranh chấp trong đấu thầu quốc tế, kế hoạch đấu thầu tổng thể, chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư, quản lý sử dụng nhà thầu và nhà thầu phụ bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả, đúng thẩm quyền, không lạm dụng chính sách.
Về dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp trình Chính phủ
1. Thống nhất đề xuất của Bộ Tư pháp về việc điều chỉnh tên Luật thành “Luật Văn bản quy phạm pháp luật”. Giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, cụ thể như sau:
a) Thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật; hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật theo hướng đơn giản, dễ thực hiện; cắt giảm tài liệu, hồ sơ trùng lặp, không cần thiết; tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ trong công tác xây dựng pháp luật.
b) Khẩn trương hoàn thiện việc tổng kết, đánh giá kết quả thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội, xác định những nội dung phù hợp, thực tiễn chứng minh hiệu quả để đề xuất đưa vào Luật; đồng thời quy định cơ chế kéo dài hiệu lực của các văn bản đã ban hành theo Nghị quyết số 206/2025/QH15 tối đa đến ngày 31 tháng 12 năm 2027 để các cơ quan có thêm thời gian sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, tránh tạo khoảng trống pháp lý.
c) Quy định rõ phương án, lộ trình phù hợp để xử lý đối với đề xuất thu hẹp hình thức nghị quyết quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, bảo đảm khả thi, không để phát sinh khoảng trống pháp lý.
d) Thống nhất bổ sung yêu cầu đánh giá nguy cơ chính sách bị lợi dụng để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra; tuy nhiên cần có tiêu chí rõ ràng để bảo đảm thống nhất, khả thi.
đ) Nghiên cứu đơn giản hóa quy trình xây dựng luật, pháp lệnh; thiết kế hồ sơ lập pháp thống nhất, bảo đảm kế thừa kết quả giữa các giai đoạn; liên thông giữa nghiên cứu chính sách, đánh giá tác động, tham vấn và soạn thảo. Nghiên cứu phương án không quy định quy trình chính sách như một quy trình độc lập, việc đánh giá tác động sẽ thực hiện đối với từng quy định xuyên suốt cả quá trình soạn thảo, thẩm định, trình ký văn bản; trường hợp cần thiết, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định.
e) Quy định chặt chẽ tiêu chí, thẩm quyền quyết định áp dụng quy trình rút gọn; hoàn thiện quy trình, thủ tục rút gọn, bảo đảm cụ thể, rõ ràng, tương xứng với tính chất và nội dung của từng nhóm văn bản, tránh áp dụng tùy nghi, lạm dụng, khó kiểm soát.
g) Cụ thể hóa yêu cầu về ứng dụng công nghệ số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và xây dựng hồ sơ lập pháp điện tử thống nhất.
h) Bổ sung yêu cầu đăng tải, lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh trên cổng thông tin điện tử Chính phủ vào dự thảo Luật và dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật để hình thành một đầu mối thống nhất ở cấp Chính phủ để tiếp nhận, tập hợp và chuyển tải ý kiến của Nhân dân đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
2. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu chỉ đạo việc tiếp thu, hoàn thiện dự án Luật trên để trình tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Ngoài ra, Nghị quyết cũng đưa ra một số dự án luật khác.
Nội dung chi tiết Nghị quyết số 257/NQ-CP
