Cơ chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Ngày 17/8/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 323/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Nghị định này quy định chi tiết khoản 4 Điều 7, khoản 5 Điều 9, Điều 13, Điều 14, Điều 17 và Điều 18 của Nghị quyết số 20/2026/QH16 ngày 23 tháng 4 năm 2026 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (sau đây gọi là Nghị quyết) và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết.
Nghị định quy định trách nhiệm phối hợp trong phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế:
Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan liên quan có trách nhiệm chủ động phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình; thường xuyên rà soát, đánh giá việc thực hiện các quy định pháp luật; trao đổi, đối thoại với nhà đầu tư nước ngoài để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tránh phát sinh cách hiểu không đúng hoặc khác nhau về chính sách, pháp luật; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành và cơ quan, tổ chức liên quan kịp thời xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế.
Khi nhận được yêu cầu của cơ quan chủ trì hoặc Bộ Tài chính hoặc Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan liên quan có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, hồ sơ, chứng cứ, tài liệu và ý kiến về các nội dung liên quan; trường hợp đặc biệt không thể cung cấp, phải có văn bản nêu rõ lý do.
Trường hợp nhận định các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài có nguy cơ phát sinh thành tranh chấp đầu tư quốc tế, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan liên quan thông báo kịp thời bằng văn bản cho Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao để phối hợp xử lý, phòng ngừa tranh chấp.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan liên quan tổng hợp, phân tích về tình hình xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài và nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế. Trên cơ sở kết quả tổng hợp, phân tích, Bộ Tài chính có văn bản thông tin, hướng dẫn và đôn đốc các bộ, ngành, địa phương lưu ý các nguy cơ phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế để chủ động rà soát, xử lý.
Trường hợp phát sinh tranh chấp đầu tư quốc tế, việc phối hợp giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định tại Nghị quyết, Nghị định này và quy định pháp luật có liên quan.
Về cơ chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, Nghị định quy định như sau:
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài:
Trường hợp là Cơ quan chủ trì theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 20/2026/QH16 (Nghị quyết) và Điều 9 của Nghị định này, chủ động thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 13 của Nghị quyết và Điều 10 của Nghị định này; đồng thời thông báo bằng văn bản đến Cơ quan đại diện pháp lý trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được.
Trường hợp không phải là Cơ quan chủ trì theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này, thông báo bằng văn bản kèm theo toàn bộ tài liệu đã nhận đến Cơ quan chủ trì hoặc Cơ quan đại diện pháp lý (trong trường hợp không xác định được Cơ quan chủ trì) trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được.
Trách nhiệm của Cơ quan đại diện pháp lý nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài:
Trường hợp xác định được Cơ quan chủ trì theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết, thông báo bằng văn bản kèm theo toàn bộ tài liệu đã nhận đến Cơ quan chủ trì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được toàn bộ tài liệu.
Báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được toàn bộ tài liệu.
Cơ quan chủ trì có trách nhiệm chủ động, kịp thời tiếp nhận, xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài theo quy định tại Nghị quyết và Nghị định này nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế được thực hiện thống nhất, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hạn chế phát sinh vấn đề phức tạp, bất lợi trong vụ việc tranh chấp.
Trong quá trình xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện quy định ở trên, Cơ quan chủ trì có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan đại diện pháp lý và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan tiến hành thương lượng, tham vấn hoặc hòa giải với Nguyên đơn theo quy định của pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan nhằm giải quyết tranh chấp và giảm thiểu nguy cơ phát sinh vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, có trách nhiệm chủ động, kịp thời phối hợp với Cơ quan chủ trì trong việc xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài; cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn thông tin, tài liệu; cử người tham gia phối hợp và thực hiện các yêu cầu của Cơ quan chủ trì bảo đảm bảo vệ quyền và lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hạn chế phát sinh vấn đề phức tạp, bất lợi trong vụ việc tranh chấp.
Việc tiếp nhận, xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài theo quy định tại Điều này không được hiểu là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận thẩm quyền của cơ quan tài phán liên quan hay chấp nhận nội dung của văn bản thể hiện ý định khởi kiện, thông báo trọng tài.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài:
- Trường hợp là Cơ quan chủ trì theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này, chủ động thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 13 của Nghị quyết và Điều 10 của Nghị định này; đồng thời thông báo bằng văn bản đến Cơ quan đại diện pháp lý trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được;
- Trường hợp không phải là Cơ quan chủ trì theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này, thông báo bằng văn bản kèm theo toàn bộ tài liệu đã nhận đến Cơ quan chủ trì hoặc Cơ quan đại diện pháp lý (trong trường hợp không xác định được Cơ quan chủ trì) trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được.
Trách nhiệm của Cơ quan đại diện pháp lý nhận được văn bản thể hiện ý định khởi kiện hoặc thông báo trọng tài:
- Trường hợp xác định được Cơ quan chủ trì theo quy định tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết, thông báo bằng văn bản kèm theo toàn bộ tài liệu đã nhận đến Cơ quan chủ trì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được toàn bộ tài liệu;
- Báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết và Điều 9 của Nghị định này trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được toàn bộ tài liệu.
Nghị định quy định, trường hợp các biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện liên quan đến hai hoặc nhiều cơ quan theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết, Cơ quan đại diện pháp lý đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở tiêu chí theo thứ tự ưu tiên sau đây trong số các cơ quan liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện:
- Cơ quan trực tiếp có hoặc đề xuất biện pháp có liên quan nhiều nhất đến nội dung khởi kiện của Nguyên đơn;
- Cơ quan đã chủ trì đàm phán, ký hoặc thay mặt Nhà nước, Chính phủ Việt Nam ký hợp đồng, thỏa thuận với Nguyên đơn;
- Cơ quan có đội ngũ nhân sự có chuyên môn phù hợp nhất với lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện tại thời điểm đề xuất.
Trường hợp cơ quan trực tiếp có hoặc đề xuất biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện là cơ quan tiến hành tố tụng, Cơ quan đại diện pháp lý đề xuất Thủ tướng Chính phủ quyết định Cơ quan chủ trì trên cơ sở tiêu chí theo thứ tự ưu tiên sau đây:
- Cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn liên quan nhiều nhất đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện;
- Cơ quan có đội ngũ nhân sự có chuyên môn phù hợp nhất với lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị đe dọa kiện hoặc bị kiện tại thời điểm đề xuất.
Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành về giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế (Ban Chỉ đạo liên ngành) theo quy định của Nghị quyết và Nghị định này.
Trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành là Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực liên quan đến biện pháp bị kiện tại thời điểm Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành. Phó Trưởng ban là lãnh đạo Cơ quan chủ trì. Thành viên Ban Chỉ đạo liên ngành gồm đại diện của Cơ quan chủ trì, Cơ quan đại diện pháp lý và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Cơ quan chủ trì là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo liên ngành. Cơ quan thường trực tổ chức thực hiện các ý kiến của Ban Chỉ đạo liên ngành và giúp việc Ban Chỉ đạo liên ngành thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 17 tháng 8 năm 2026.
