Quy định về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Đăng ngày 10 - 09 - 2019
100%

Ngày 05/9/2019, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 73/2019/NĐ-CP quy định về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

​Theo đó, Nghị định này quy định quản lý các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin gồm: Dự án ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước; các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin căn cứ vào mức độ quan trọng và quy mô được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo quy định của Luật Đầu tư công.

Đối với dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước, thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công và các quy định về quản lý chi phí, quản lý chất lượng tại Mục 2 Chương II của Nghị định này.

Đối với dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển nguồn vốn ngân sách nhà nước (dự án thuê), trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công và các quy định về quản lý chi phí, quản lý chất lượng tại Mục 3 Chương II của Nghị định này.

Trường hợp dự án có sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin chưa sẵn có trên thị trường, nếu cần thiết, chủ đầu tư xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền để lựa chọn các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, đề xuất giải pháp, phương án kỹ thuật, công nghệ; xây dựng, thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ. Các tổ chức, cá nhân nói trên chịu mọi chi phí phát sinh (nếu có). Sau khi thử nghiệm thành công, xác định được giải pháp kỹ thuật, công nghệ, chi phí, chủ đầu tư tiến hành các thủ tục đầu tư theo quy định.

Còn trường hợp dự án trong lĩnh vực khác có hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin, việc quản lý chi phí, quản lý chất lượng hạng mục ứng dụng công nghệ thông tin đó thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

Nghị định nêu rõ, Chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức được giao trực tiếp quản lý dự án ứng dụng công nghệ thông tin.

Cụ thể, đơn vị quản lý, sử dụng sản phẩm của dự án hoặc đơn vị chuyên môn về công nghệ thông tin làm chủ đầu tư. Bộ, cơ quan trung ương, UBND các cấp đồng thời làm chủ đầu tư. Ban quản lý dự án do bộ, cơ quan trung ương, UBND các cấp thành lập làm chủ đầu tư nếu Ban quản lý dự án đó có tư cách pháp nhân và có đủ điều kiện tổ chức triển khai thực hiện dự án.

Đối với dự án sử dụng vốn hỗn hợp, chủ đầu tư do các thành viên góp vốn thỏa thuận cử ra hoặc là đại diện của bên có tỷ lệ vốn góp cao nhất.

Nghị định không quy định các nội dung về đánh giá năng lực, kinh nghiệm của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước; không quy định các nội dung về bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Nghị định cũng bổ sung quy định thiết kế cơ sở, thiết kế chi tiết đối với các hoạt động mua sắm dự phòng, thay thế một phần các thiết bị phần cứng thuộc hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện có; mua sắm thiết bị không cần lắp đặt, phần mềm thương mại để phù hợp với đặc thù của các hoạt động này, trong đó chỉ bao gồm danh mục thiết bị cùng với các thông số kỹ thuật;

Nghị định cũng quy định quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Cụ thể, Nghị định quy định về quản lý thực hiện hoạt động đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin và hoạt động thuê dịch vụ công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Nghị định cũng quy định cụ thể thẩm quyền thẩm định, phê duyệt kế hoạch thuê dịch vụ theo yêu cầu riêng, việc lập kế hoạch thuê, dự toán thuê dịch vụ theo yêu cầu riêng, thẩm định, phê duyệt kế hoạch thuê...

Nghị định cũng quy định dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng ngân sách Nhà nước thời hạn tối thiểu bảo hành sản phẩm của dự án được tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu bàn giao, đưa sản phẩm hoặc hạng mục công việc của dự án vào khai thác, sử dụng, cụ thể:

Thời gian bảo hành 24 tháng với sản phẩm của dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A. Đối với sản phẩm của dự án nhóm B, C thời hạn bảo hành là 12 tháng. Mức tiền bảo hành tối thiểu được tính bằng tỷ lệ % giá trị sản phẩm của dự án, tương ứng 03% đối với sản phẩm có thời hạn bảo hành 24 tháng và 05% đối với dự án có thời hạn bảo hành 12 tháng.

Nhà thầu có trách nhiệm nộp thư bảo lãnh của ngân hàng có giá trị tương đương cho chủ đầu tư hoặc các hình thức khác được chủ đầu tư chấp nhận. Nhà thầu chỉ được hoàn trả bảo lãnh sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020.

Nghị định này thay thế Nghị định 102/2009/NĐ-CP về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và Quyết định 80/2014/QĐ-TTg ngày 30/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định thí điểm về thuê dịch vụ CNTT trong cơ quan nhà nước.

Tin liên quan

Công bố Bộ chỉ số đô thị thông minh Việt Nam giai đoạn đến năm 2025(20/09/2019 10:48 SA)

Thông tư quy định về quản lý và sử dụng phụ gia thực phẩm(20/09/2019 10:31 SA)

Hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí bảo đảm hàng hải (18/09/2019 3:12 CH)

Hướng dẫn việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm trung ương (18/09/2019 3:11 CH)

Tòa án nhân dân tối cao công bố 03 án lệ(16/09/2019 2:47 CH)

Tin mới nhất

Công bố Bộ chỉ số đô thị thông minh Việt Nam giai đoạn đến năm 2025(20/09/2019 10:48 SA)

Thông tư quy định về quản lý và sử dụng phụ gia thực phẩm(20/09/2019 10:31 SA)

Hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí bảo đảm hàng hải (18/09/2019 3:12 CH)

Hướng dẫn việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm trung ương (18/09/2019 3:11 CH)

Tòa án nhân dân tối cao công bố 03 án lệ(16/09/2019 2:47 CH)

°
2837 người đang online