Quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường

Đăng ngày 21 - 06 - 2019
100%

Ngày 19/6/2019, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 54/2019/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường.

​Theo đó, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh chỉ được kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường sau khi được cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh và bảo đảm các điều kiện theo quy định của Nghị định này, các quy định của pháp luật khác có liên quan. Bảo đảm an ninh, trật tự xã hội; tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và tài sản của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Không lợi dụng hoạt động kinh doanh làm phát sinh tệ nạn xã hội, tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác.

Điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke: Là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật. Bảo đảm các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Phòng hát phải có diện tích sử dụng từ 20 m2 trở lên, không kể công trình phụ. Không được đặt chốt cửa bên trong phòng hát hoặc đặt thiết bị báo động (trừ các thiết bị báo cháy nổ).

Điều kiện kinh doanh dịch vụ vũ trường:  Là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật. Bảo đảm các điều kiện về phòng, chống cháy nổ và an ninh, trật tự theo quy định tại Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Phòng vũ trường phải có diện tích sử dụng từ 80 m2 trở lên, không kể công trình phụ. Không được đặt chốt cửa bên trong phòng vũ trường hoặc đặt thiết bị báo động (trừ các thiết bị báo cháy nổ). Địa điểm kinh doanh phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn hóa từ 200 m trở lên.

Doanh nghiệp, hộ kinh doanh khi kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường chỉ được được sử dụng các bài hát phổ biến, lưu hành; chấp hành pháp luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật. Cung cấp trang phục, biển tên cho người lao động; bảo đảm đủ điều kiện cách âm và âm thanh thoát ra ngoài phòng hát hoặc phòng vũ trường phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn; tuân thủ quy định tại Nghị định 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu; tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá; tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm; bản quyền tác giả; hợp đồng lao động; an toàn lao động; bảo hiểm; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định của pháp luật khác có liên quan.

Ngoài trách nhiệm quy định nêu trên, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ karaoke có trách nhiệm bảo đảm hình ảnh phù hợp lời bài hát thể hiện trên màn hình (hoặc hình thức tương tự) và văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam; không được hoạt động từ 0 giờ sáng đến 8 giờ sáng.

Ngoài trách nhiệm nêu trên, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh dịch vụ vũ trường không được hoạt động từ 2 giờ sáng đến 8 giờ sáng; không cung cấp dịch vụ vũ trường cho người chưa đủ 18 tuổi; trường hợp có chương trình biểu diễn nghệ thuật phải thực hiện theo quy định của pháp luật về biểu diễn nghệ thuật.

UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường trên địa bàn. Chỉ đạo cơ quan cấp Giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, Công an tỉnh, Sở Công Thương, Sở Tài Chính, các cơ quan, ban, ngành khác và UBND các cấp ở địa phương thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường trên địa bàn. Thực hiện công bố, công khai các thủ tục hành chính của kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường theo thẩm quyền. Chỉ đạo, hướng dẫn, tuyên truyền và tổ chức triển khai thực hiện vặn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường. Thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường theo quy định. Thực hiện công tác thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2019.

Tin liên quan

Công bố thủ tục hành chính bị bãi bỏ lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử (09/12/2019 10:20 SA)

Chính phủ giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2020(09/12/2019 10:19 SA)

Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (09/12/2019 8:11 SA)

Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030(09/12/2019 8:10 SA)

Hướng dẫn tư vấn, sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh.(09/12/2019 8:09 SA)

Tin mới nhất

Công bố thủ tục hành chính bị bãi bỏ lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử (09/12/2019 10:20 SA)

Chính phủ giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2020(09/12/2019 10:19 SA)

Phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (09/12/2019 8:11 SA)

Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030(09/12/2019 8:10 SA)

Hướng dẫn tư vấn, sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh.(09/12/2019 8:09 SA)

°
465 người đang online