Quy định mới về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước

Đăng ngày 30 - 01 - 2019
100%

Ngày 24/01/2019, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 09/2019/NĐ-CP quy định về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước.

​Nghị định này quy định về nguyên tắc, thẩm quyền ban hành và nội dung chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện công tác báo cáo giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức, cá nhân có liên quan; các yêu cầu đối với việc ban hành chế độ báo cáo; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thực hiện chế độ báo cáo và xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện chế độ báo cáo.

Yêu cầu chung về việc ban hành chế độ báo cáo. Tên báo cáo: phải bảo đảm rõ ràng, ngắn gọn và thể hiện được bao quát nội dung, phạm vi yêu cầu báo cáo. Nội dung yêu cầu báo cáo: Phải bảo đảm cung cấp những thông tin cần thiết nhằm phục vụ mục tiêu quản lý, chỉ đạo, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền; đồng thời, nội dung yêu cầu báo cáo phải rõ ràng, dễ hiểu, tạo thuận lợi cho đối tượng thực hiện báo cáo.Tùy từng trường hợp cụ thể, nội dung yêu cầu báo cáo có thể chỉ có phần lời văn, chỉ có phần số liệu hoặc bao gồm cả phần lời văn và phần số liệu.

Đối tượng thực hiện báo cáo, cơ quan nhận báo cáo:  Chế độ báo cáo phải xác định rõ đối tượng thực hiện báo cáo (bao gồm cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức, cá nhân) và xác định cụ thể tên cơ quan nhận báo cáo;Việc quy định đối tượng thực hiện báo cáo phải bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đối tượng thực hiện báo cáo.

Phương thức gửi, nhận báo cáo:  Gửi trực tiếp; Gửi qua dịch vụ bưu chính; Gửi qua Fax;Gửi qua hệ thống thư điện tử; Gửi qua hệ thống phần mềm thông tin báo cáo chuyên dùng. Các phương thức khác theo quy định của pháp luật.

Thời gian chốt số liệu báo cáo và thời hạn gửi báo cáo:  Thời gian chốt số liệu báo cáo được xác định dựa trên nhu cầu thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và đặc thù của ngành, lĩnh vực quản lý. Thời gian chốt số liệu báo cáo phải thống nhất với thời gian chốt số liệu của các chế độ báo cáo khác trong cùng ngành, lĩnh vực để tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng thực hiện báo cáo; Thời hạn gửi báo cáo được xác định căn cứ vào đối tượng thực hiện báo cáo, nội dung báo cáo và thời điểm kết thúc việc lấy số liệu báo cáo, nhưng phải bảo đảm thời gian không ít hơn 01 ngày làm việc tính từ thời điểm kết thúc việc lấy số liệu báo cáo đến thời hạn gửi báo cáo hoặc ước tính thời gian từ khi nhận được báo cáo để tổng hợp đến thời gian hoàn thành báo cáo và gửi đi.Thời hạn gửi báo cáo định kỳ đối với trường hợp báo cáo phức tạp, có nhiều đối tượng thực hiện và phải tổng hợp qua nhiều cơ quan, nhiều cấp khác nhau thì quy định rõ thời hạn đối với từng đối tượng, từng cấp báo cáo đó;

Đối với báo cáo chuyên đề, báo cáo đột xuất, thời gian chốt số liệu và thời hạn gửi báo cáo thực hiện theo yêu cầu của cơ quan ban hành chế độ báo cáo.

UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm: Ban hành Quyết định quy định chế độ báo cáo định kỳ phục vụ mục tiêu quản lý theo địa bàn. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố danh mục báo cáo định kỳ tại văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trên Cổng Thông tin điện tử, Trang Thông tin điện tử của bộ, cơ quan mình chậm nhất vào ngày 15 tháng 6 năm 2019. Danh mục báo cáo định kỳ phải được cập nhật, công bố thường xuyên khi có sự thay đổi. Thời hạn công bố chậm nhất là sau 15 ngày làm việc kể từ ngày văn bản quy định chế độ báo cáo có hiệu lực thi hành.

Thường xuyên tổ chức rà soát chế độ báo cáo để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước, đáp ứng các nguyên tắc và yêu cầu của Nghị định này. Tổ chức xây dựng, quản lý và vận hành các hệ thống thông tin báo cáo theo hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ và Bộ Thông tin và Truyền thông. Hướng dẫn, tổ chức tập huấn cho các đối tượng thực hiện báo cáo.

Chỉ đạo cơ quan chuyên trách về công nghệ thông tin, đơn vị vận hành xác định cấp độ bảo đảm an toàn thông tin và thực hiện phương án bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ đối với các hệ thống thông tin báo cáo thuộc phạm vi mình quản lý theo quy định của pháp luật. Thiết lập các hệ thống giám sát, phòng, chống tấn công, chống thất thoát dữ liệu, phòng, chống vi-rút để bảo đảm an toàn, an ninh cho hệ thống.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 12 tháng 3 năm 2019. Bãi bỏ điểm a khoản 1 Điều 47 Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ.

Tin liên quan

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước(20/02/2019 1:58 CH)

Tập trung chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt công tác phòng, chống dịch bệnh động vật(20/02/2019 1:57 CH)

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trồng trọt, Luật Chăn nuôi.(19/02/2019 2:24 CH)

Kế hoạch Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2019 của Bộ Y tế.(18/02/2019 2:53 CH)

Nghị quyết Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01 năm 2019.(18/02/2019 2:53 CH)

Tin mới nhất

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước(20/02/2019 1:58 CH)

Tập trung chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt công tác phòng, chống dịch bệnh động vật(20/02/2019 1:57 CH)

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trồng trọt, Luật Chăn nuôi.(19/02/2019 2:24 CH)

Kế hoạch Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2019 của Bộ Y tế.(18/02/2019 2:53 CH)

Nghị quyết Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01 năm 2019.(18/02/2019 2:53 CH)

°
1243 người đang online